## Thề non nước
Nước non nặng một nhời thề,
Nước đi đi mãi không về cùng non.
Nhớ nhời nguyện nước thề non,
Nước đi chưa lại, non còn đứng không
Non cao những ngóng cùng trông,
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày.
Sương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương!
Giời tây chiếu bóng tà dương,
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.
Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non thời nhớ nước, nước mà quên non?
Dẫu rằng sông cạn đá mòn,
Còn non còn nước hãy còn thề xưa.
Non xanh đã biết hay chưa?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn,
Bảo cho non chớ có buồn làm chi.
Nước kia dù hãy còn đi,
Ngàn dâu xanh biếc non thì cứ vui
Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non nước nước chưa nguôi nhời thề.
## Muốn làm thằng Cuội
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi,
Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.
Có bầu có bạn can chi tủi,
Cùng gió, cùng mây thế mới vui.
Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám,
Tựa nhau trông xuống thế gian cười.
## Hầu trời
Đêm qua chẳng biết có hay không,
Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng.
Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!
Thật được lên tiên - sướng lạ lùng.
Nguyên lúc canh ba nằm một mình,
Vắt chân dưới bóng ngọn đèn xanh.
Nằm buồn, ngồi dậy đun nước uống,
Uống xong ấm nước, nằm ngâm văn.
Chơi văn ngâm chán lại chơi trăng
Ra sân cùng bóng đi tung tăng
Trên trời bỗng thấy hai cô xuống
Miệng cười mủm mỉm cùng nói rằng:
- "Trời nghe hạ giới ai ngâm nga,
Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà!
Làm Trời mất ngủ, Trời đương mắng
Có hay lên đọc, Trời nghe qua."
Ước mãi bây giờ mới gặp tiên!
Người tiên nghe tiếng lại như quen!
Văn chương nào có hay cho lắm
Trời đã sai gọi thời phải lên.
Theo hai cô tiên lên đường mây
Vù vù không cánh mà như bay.
Cửa son đỏ chói, oai rực rỡ
Thiên môn đế khuyết như là đây!
Vào trông thấy Trời, sụp xuống lạy
Trời sai tiên nữ dắt lôi dậy.
Ghế bành như tuyết vân như mây
Truyền cho văn sĩ ngồi chơi đấy.
Chư tiên ngồi quanh đã tĩnh túc
Trời sai pha nước để nhấp giọng.
Truyền cho "văn sĩ đọc văn nghe!"
- "Dạ bẩm lạy Trời con xin đọc."
Đọc hết văn vần sang văn xuôi
Hết văn thuyết lý lại văn chơi
Đương cơn đắc ý đọc đã thích
Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi.
Văn dài hơi tốt ran cung mây!
Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay.
Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày
Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay.
- "Bẩm con không dám man cửa Trời
Những án văn con in cả rồi
Hai quyển Khối tình văn thuyết lý
Hai Khối tình con là văn chơi
Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết
Đài gương, Lên sáu văn vị đời
Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch
Đến quyển Lên tám nay là mười
Nhờ Trời văn con còn bán được
Chửa biết con in ra mấy mươi?"
Văn đã giàu thay, lại lắm lối
Trời nghe Trời cũng bật buồn cười!
Chư tiên ao ước tranh nhau dặn:
- "Anh gánh lên đây bán chợ Trời!"
Trời lại phê cho: "Văn thật tuyệt!
Văn trần được thế chắc có ít!
Nhời văn chuốt đẹp như sao băng!
Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!
Êm như gió thoảng, tinh như sương!
Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!
Chẳng hay văn sĩ tên họ gì?
Người ở phương nào, ta chưa biết."
- "Dạ, bẩm lạy Trời con xin thưa
Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn
Quê ở Á châu về Địa cầu
Sông Đà núi Tản nước Nam Việt."
Nghe xong Trời ngợ một lúc lâu
Sai bảo thiên tào lấy sổ xét.
Thiên tào tra sổ xét vừa xong
Đệ sổ lên trình Thượng đế trông
- "Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu
Đày xuống hạ giới vì tội ngông."
Trời rằng: "Không phải là Trời đày,
Trời định sai con một việc này
Là việc "thiên lương" của nhân loại,
Cho con xuống thuật cùng đời hay."
- "Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo khó
Trần gian thước đất cũng không có
Nhờ Trời năm xưa học ít nhiều
Vốn liếng còn một bụng văn đó.
Giấy người mực người thuê người in
Mướn cửa hàng người bán phường phố.
Văn chương hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thực rất khó.
Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu.
Lo ăn lo mặc hết ngày tháng
Học ngày một kém tuổi ngày cao
Sức trong non yếu ngoài chen rấp
Một cây che chống bốn năm chiều.
Trời lại sai con việc nặng quá
Biết làm có được mà dám theo."
Rằng: "Con không nói Trời đã biết
Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết
Thôi con cứ về mà làm ăn
Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết!"
Vâng nhời Trời dạy, lạy xin ra
Trời sai Khiên Ngưu đóng xe tiễn
Xe trời đã chực ngoài thiên môn
Chư tiên theo ra cùng tiễn biệt.
Hai hàng lụy biệt giọt sương rơi
Trông xuống trần gian vạn dặm khơi.
Thiên tiên ở lại, trích tiên xuống
Theo đường không khí về trần ai.
Đêm khuya khí thanh sao thưa vắng
Trăng tà đưa lối về non Đoài.
Non Đoài đã tới quê trần giới,
Trông lên chư tiên không còn ai.
Tiếng gà xao xác, tiếng người dậy
Giữa sân còn đứng riêng ngậm ngùi.
Một trăm ba trăm sáu mươi đêm,
Sao được mỗi đêm lên hầu Trời!
## Tống biệt
Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai,
Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi.
Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai.
Ước cũ duyên thừa có thế thôi.
Đá mòn, rêu nhạt,
Nước chảy, huê trôi,
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ nay xa cách mãi.
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối cũ,
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng soi.
## Cảm thu tiễn thu
Từ vào thu đến nay
Gió thu hiu hắt
Sương thu lạnh
Giăng (Trăng) thu bạch
Khói thu xây thành
Lá thu rơi rụng đầu ghềnh
Sông thu đưa lá bao ngành biệt ly
Nhạn về én lại bay đi,
Đêm thì vượn hót ngày thì ve ngâm.
Lá sen tàn tạ trong đầm,
Nặng mang giọt lệ âm thầm khóc hoa.
Sắc đâu nhuộm ố quan hà
Cỏ vàng cây đỏ, bóng tà tà dương
Nào người cố lý tha hương
Cảm thu ai có tư lường hỡi ai?
Nào những ai:
Bảy thước thân nam tử
Bốn bể chí tang bồng
Đường mây chưa bổng cánh bồng
Tiêu ma tuế nguyệt ngại ngùng tu mi
Nào những ai:
Sinh trưởng nơi khuê các
Khuya sớm phận nữ nhi.
Song the ngày tháng thoi đi,
Vương tơ ngắm nhện nhỡ thì thương hoa?
Nào những ai:
Tha phương khách thổ
Hải giác thiên nha
Ruột tằm héo, tóc sương pha
Gốc phần trạnh tưởng quê nhà đòi cơn?
Nào những ai:
Cù lao báo đức
Sinh dưỡng đền ơn
Kinh sương nghĩ nỗi mền đơn
Giàu sang bất nghĩa mà hơn nghèo hèn?
Nào những ai:
Tóc xanh mây cuốn
Má đỏ hoa ghen,
Làng chơi duyên đã hết duyên
Khúc sông trăng dãi con thuyền chơi vơi?
Nào những ai:
Dọc ngang trời rộng,
Vùng vẫy bể khơi,
Đội trời đạp đất ở đời,
Sa cơ thất thế quê người chiếc thân?
Nào những ai:
Kê vàng tỉnh mông
Tóc bạc thương thân
Vèo trông lá rụng đầy sân
Công danh phù thế có ngần ấy thôi?
Thôi nghĩ cho
Thu tự trời
Cảm tự người
Người đời ai cảm ta không biết
Ta cảm thay ai viết mầy nhời
Thôi thời:
Cùng thu tạm biệt
Thu hãy tạm lui
Chỉ để khách đa tình đa cảm
Một mình than cảm những ai ai!
## Chim họa mi trong lồng
Họa mi ai vẽ nên mi?
Trông thì mi đẹp, hót thì mi hay.
Ai đưa mi đến chốn này?
Nước trong gạo trắng mi ngày ăn chơi,
Lồng son cửa đỏ thảnh thơi,
Mi bay mi nhảy sướng đời nhà mi!
Nghĩ cho mi cũng gặp thì,
Rừng xanh mi có nhớ gì nữa không?
## Thăm mả cũ bên đường
Chơi lâu, nhớ quê về thăm nhà,
Đường xa, người vắng, bóng chiều tà.
Một dãy lau cao làn gió chạy,
Mấy cây thưa lá sắc vàng pha.
Ngoài xe trơ một đống đất đỏ,
Hang hốc đùn trên đám cỏ gà.
Người nằm dưới mả, ai ai đó,
Biết có quê đây, hay vùng xa?
Hay là thuở trước kẻ cung đao,
Hám đạn, liều tên, quyết mũi dao.
Cửa nhà xa cách, vợ con khuất,
Da ngựa gói bỏ lâu ngày cao?
Hay là thuở trước kẻ văn chương,
Chen hội công danh nhỡ lạc đường.
Tài cao, phận thấp, chí khí uất,
Giang hồ mê chơi, quên quê hương?
Hay là thuở trước khách hồng nhan,
Sắc sảo khôn ngoan trời đất ghen.
Phong trần xui gặp bước lưu lạc,
Đầu xanh theo một chuyến xuân tàn?
Hay là thuở trước khách phong lưu,
Vợ con đàn hạc, đề huề theo.
Quan san xa lạ, đường lối khó,
Ma thiêng nước độc, phong sương nhiều?
Hay là thuở trước bậc tài danh,
Đôi đôi lứa lứa cũng linh tinh.
Giận duyên tủi phận hờn ân ái,
Đất khách nhờ chôn một khối tình?
Suối vàng sâu thẳm biết là ai,
Mả cũ không ai kẻ đoái hoài.
Trải bao ngày tháng trơ trơ đó,
Mưa dầu nắng dãi, trăng mờ soi.
Ấy thực quê hương con người ta,
Dặn bảo trên đường những khách qua
Có tiếng khóc oe thời có thế,
Trăm năm ai lại biết ai mà!
## Đời đáng chán
Người đời thử ngẫm mà hay
Trăm năm là ngắn, một ngày dài ghê!
Còn ai ai tỉnh, ai mê,
Những ai thiên cổ đi về những đâu?
Đời đáng chán hay không đáng chán?
Cất chén quỳnh riêng hỏi bạn tri âm
Giá khuynh thành nhất tiếu thiên kim
Mắt xanh trắng đổi nhầm bao khách tục
Giang hà nhật dạ nhân giai trọc
Thiên địa lô trung thực hữu tình
Đón đưa ai gió lá chim cành,
Ấy nhân thế phù sinh là thế thế
Khách phù thế chưa dứt câu phù thế
Người phong lưu càng đượm vẻ phong lưu.
Bức khăn hồng nâng đỡ hạt châu
Chuyện kim cổ một vài câu phải trái
Châu Nam Hải, thuyền chìm sông Thúy Ái,
Sóng Tiền Đường, cỏ áy bến Ô Giang!
Ngẫm nghìn xưa, ai tài hoa, ai tiết liệt, ai đài trang,
Cùng một giấc mơ màng trong vũ trụ.
Đời đáng chán biết thôi là đủ
Sự chán đời xin nhủ lại tri âm.
Nên chăng, nghĩ lại kẻo nhầm.
## Chuyện thế gian
Quyển thứ nhất
Quyển thứ hai
## Sự đời
Gió gió mưa mưa đã chán phèo
Sự đời nghĩ đến lại buồn teo
Thối om sọt phẩn nhiều cô gánh
Tanh ngắt hơi đồng lắm cậu yêu
Quần tía đùi non anh chiệc vỗ
Rừng xanh, cây quế, chú Mường leo
Phố phường nghe có vui chăng tá?
Áo, mũ, râu, ria mấy đám chèo.
## Đánh bạc
Trong đời người sáu, bảy mươi năm, bao nhiêu cảnh thuận, bao nhiêu cảnh nghịch, bao nhiêu cái sướng, bao nhiêu cái buồn, bao nhiêu cái cười, bao nhiều cái khóc; nhưng ngồi mà nghĩ, chỉ như canh bạc chơi một đêm.
Ngồi vào bàn bạc mà chơi, ai không muốn được. Nhưng sao cho được chắc mà không thua. Thua rồi lại được, được rồi lại thua, đỏ đỏ đen đen, lên voi xuống chó. Trong năm canh hì-hục, được hẳng vui, thua dễ bẳn, thường tình ai cũng như ai. Trời chưa sáng, đêm còn dài, thời đồng tiền trong tay, nhiều cũng chưa bẳn có, hết cũng chưa chắc không. Tất đến lúc đứng dậy ra về, còn gì mới là được.
Người ta ở trong đời, khi nổi khi chìm, lúc may lúc rủi, không rồi lại có, đầy rồi lại vơi, lên lên, xuống xuống, như cây thụt máy tầu. Tiền chôn bạc chứa chưa là giầu; nhà gianh vách đất chưa là nghèo; võng, lọng, ngựa, xe chưa là vinh; xiềng, xích, gông, cùm chưa là nhục. Những cái đó chỉ như một ván tổ-tôm: một cái búng-quay, một tiếng sóc-đĩa, làm cho ta đương mừng hóa lo, đương buồn hóa sướng, say mê chìm đắm, khóc hão, thương hoài. Cuộc đỏ đen còn ở lại với đời, thời ấm chè tàu, điếu thuốc lá, chén rượu cúc, bát cháo gà, không không thèm đòi, có cũng ăn chơi; trăm năm giũ áo chốn trần-ai, còn gì mới là được.
Ông Khổng-tử khi trước, lúc đi câu, lúc đi bắn, lúc làm quan nhỏ, lúc làm quan to, lúc đi chơi lang-thang, lúc ngồi nhà dạy học: tan cuộc 72 năm, còn được lại hai chữ thánh-sư. Ông Nã-phá-Luân lúc làm quan, lúc làm vua, lúc làm tướng, lúc trong tay 80 vạn quân lính, gầm hét châu Âu, lúc một mình giam lỏng chốn bãi bể; tan cuộc 52 năm, còn lại được một tiếng anh-hùng.
Cũng có kẻ không to mà được bé, không nhiều mà được ít thời như ông Trương-Tuần, ông Hứa-Viễn, chữ song-trung, ông Mẫu-Tử chữ hiếu, ông Quí-Bố chữ hoàng-kim-nặc, ông Tiếp-Dư một chữ cuồng.
Còn như Vương-Khải, Thạch-Sùng, Lý-Cầm, Lý-Tiến, bạc năm canh tha hồ mở bát, vỗ túi về không. Ất-Trần, Mai-Kiện, Tần-Cối, Trương hoằng-Phạm, không những về không, để thêm tiếng cờ gian bạc lận. Nay cứ lấy lẽ thường mà nói, thời con người ta đã đem thân chơi cuộc đời, cũng nên liệu tính làm sao, lúc đứng dậy kiếm đôi ba chút. Có lẽ đánh bạc không mong được, mà chỉ thức đêm ăn nhục-phở?
Nay ai ơi! Thử trèo bức tường đổ, trông quãng đồng xa, mồ con mả lớn, chỗ năm chỗ ba, chẳng quan thời dân, chẳng trẻ thời già, trước cũng người cả, bây giờ đã ma! Nào tiền nào của, nào cửa nào nhà, nào con nào vợ, nào câu đối đỏ, nào mành mành hoa, nào đâu đâu cả? mà chỉ thấy sương mù nắng rãi với mưa sa! Cuộc nhân-thế từ xưa mã thế, làng chơi ta phải biết, trăm năm không dại dễ du mà?!
## Trần ai tri kỷ
局書修沱傘
書叢
TRẦN-AI TRI-KỶ
(Truyện Thế-gian)
TẢN-ĐÀ
NGUYỄN-KHẮC-HIẾU
SOẠN
HÀ-NỘI
ĐÔNG-KINH ẤN-QUÁN
Phố hàng Gai, số 80-82
1924
TRẦN-AI TRI-KỶ
Tous droits réservés
TRẦN-AI TRI-KỶ
Giăng tà bóng nhạt,
Cầu cao gió đưa,
Ngang cầu điểm điểm hạt mưa,
Tình đà nặng gánh, giời vừa rạng đông.
— Lại đắc cú gì mà ngâm thế?
— À, tôi đương chép cái truyện này.
— Truyện gì, lại Thế-gian phải không?
— Phải, chỉ truyện Thế-gian là có thú hơn nhất.
— Truyện gì đấy? hay lại « Cô ba nào »?
— Ai làm gì có lắm truyện cô ba thế. Cái truyện này tôi nghe đã lâu, bây giờ mới đem ra để viết.
— Đã viết được ít nào đấy, thử đưa cho xem nào.
— Tôi hãy nói qua cái gốc truyện để bác nghe đã, rồi hãy xem vào truyện. Nguyên cái truyện này của một người thợ giặt ở Nam-Định nói ra, một người bạn tôi nghe thật rõ, lại thuật lại cho tôi nghe và bảo tôi nên chép ra làm truyện. Cứ người bạn tôi thuật lại cho tôi nghe, cũng đã đến mấy năm nay rồi; còn như người thợ giặt ở Nam-Định thời bây giờ là ai, tên là gì, còn hay không, không biết rõ.
— Cần gì phải biết rõ người ấy?
— Biết rõ được cũng hay, vì người thợ giặt ấy không những là người nói truyện, lại có quan-hệ đến trong truyện. Để tôi hãy nói qua truyện về người thợ giặt ấy để bác nghe:
Nguyên ở Nam-Định có một người thợ giặt ở về bến đò Trè; hắn dẫu là có hiệu giặt, nhưng ngày vẫn làm cùng các thợ bạn. Trong nhà người thợ giặt ấy có một người đàn-bà, đã già mà mù, ngày chỉ ngồi trong giường, những việc như đong đấu gạo, mua bó rau cũng không hề bận đến. Ai không biết, đều nghĩ cho là mẹ người thợ giặt, nhưng chính thực là vợ. Những người đã biết rõ là vợ người thợ giặt thời ai cũng phải lấy làm lạ, vì trông người đàn-bà ấy không ra cách người vợ tao-khang, chỉ là một người đã ăn chơi giang-hồ mà nay giở về già; thế mà người thợ giặt kia rất là chiều chuộng, trong nhà không có tiếng bất-hòa bao giờ.
— Nghĩ cũng hơi lạ thật. Thế cái truyện của người thợ giặt ấy nói ra làm sao?
— Cứ người thợ giặt nói thời tôi không được nghe; cứ người bạn tôi thuật lại, cũng đã lôi-thôi dài lắm. Nay tôi muốn cứ chép theo nhời người bạn tôi thuật, nhưng cũng linh-tinh từng đoạn một, chưa xếp được thành truyện.
— Thế đã chép ra được đoạn nào chưa?
— Tôi mới thảo ra thôi.
— Đâu? Đoạn thứ nhất đâu?
— Đây, để tôi đọc bác nghe:
« Lúc ấy đã đến một giờ sáng, Thị Hai nằm sắp ngủ, lại thấy có người gọi cửa thời tức là bác Cả. Nghĩ bác Cả vừa ở đây ra về, tại làm sao lại đến? Đến lúc bác Cả vào thời trông mặt như người thất-hồn, không hiểu là vì sao. Hai người lại cùng nhau ngồi trong một cái buồng riêng nói truyện.
Bác Cả nói: Tôi không chắc có sống được nữa không!
Thị Hai: Tại làm sao thế?
— Đánh mất trộm hết cả tiền của ông chủ rồi.
— Mất ra làm sao?
— Lúc tôi ở đây về đến nhà, thấy cửa mở ngỏ, vội chạy ngay vào chỗ tủ để bạc thời tủ cũng đã ngỏ mà tiền mất sạch cả.
— Chết! chỗ tiền ấy vào bao nhiêu?
— Có đến hơn hai nghìn; còn giấy má lung-tung, có mất gì nữa hay không thời tôi chưa kịp xét đến.
— Thế bây giờ anh định nghĩ ra làm sao?
— Tôi không biết nghĩ ra làm sao cả; chỉ vội chạy lại đây nói truyện, xem mình có cách nào nghĩ cứu tôi được không.
— Anh còn không biết nghĩ thế nào được; huống-hồ tôi là một người đàn-bà, còn biết làm thế nào mà cứu anh được.
Bác Cả khi ấy ngồi rũ đầu ở dưới ngọn đèn, không có một câu gì nữa. Thị Hai nghĩ một lúc, rồi bảo người tình-nhân khốn-nạn ấy rằng:
— Từ khi anh có lòng yêu mà đi lại đây với tôi, những tiền anh cho tôi, tôi cũng không sắm-sửa gì, vẫn còn để dành cả, để đợi có một ngày ra khỏi đây thời lấy tiền để làm vốn. Số tiền của anh cho mà tôi để dành lại đến nay, tất cả cũng được đến bẩy chục bạc. Bây giờ tôi cho lại anh cái tiền ấy, cùng là cả cái thân của tôi nữa, anh muốn nghĩ làm thế nào cho thoát nạn được thời làm. Thế là tôi ở với anh thật hết tình, không còn có tiếc một tí nào nữa.
Bác Cả nghe nói, như cũng hơi mừng mà rồi lại càng buồn, nghĩ dẫu thế cũng không tính thế nào được; ngồi chỉ thở dài mà điếu thuốc cũng không muốn hút nữa. Ôi! lầu xanh là chỗ để cho những người trong làng chơi đến giải chí, sao lại có người làng chơi như bác Cả đó, đến đó mà năn-nì thảm-đạm như thế ru? Nửa gian nhà cỏ, một ngọn đèn xanh, hai người gục đầu ngồi đối nhau, trong tình-giới đến như thế là u-tình? hay thảm-tình?
Thị Hai lại nghĩ một lúc nữa, rồi lại bảo bác Cả rằng:
— Tôi đã cho anh cả người tôi lẫn của, tôi lại nghĩ hộ anh như thế này, nếu anh mà không làm được nữa thời tôi cũng thật chịu.
— Như thế nào?
— Bây giờ đưa nhau đi hẳn một nơi thật xa, anh nhận tôi là một người em gái, số tiền này anh lấy may cho tôi một bộ cánh, rồi tìm một ông chủ nào có thể nương tựa được mà gả tôi cho ông ấy, anh lại ở hầu ông ấy nhân thể. Như thế thời hãy tạm qua được trong lúc này, còn sau này ra làm sao thời đến lúc nào, ta sẽ hay lúc ấy.
— Câu truyện nói đến đấy, đã gần bốn giờ sáng. Bác Cả cũng đành lấy làm phải, rồi bỏ liều không dám quay về đến nhà nữa. Thị Hai thời vội đi lấy số tiền của mình cất dấu một chỗ, quần lĩnh áo hoa đều để lại giả nhà chủ, chỉ mặc một cái áo vải nâu non ra ngoài cái áo cánh, cùng nhau sấn đêm chốn ra đi, qua cầu Nhị-hà sang Gia-Lâm, để đến sáng đi chốn chuyến xe nhất « Giăng tà bóng nhạt, cầu cao gió đưa, ngang cầu điểm điểm hạt mưa, tình đà nặng gánh, giời vừa rạng đông. »
— Họ đem nhau đi, rồi ra làm sao?
— Còn dài lắm. Để tôi đi tìm rượu uống mấy chén với lạc chơi, rồi ta lại sẽ nói truyện.
« Năm...., ở thành-phố Hải-Phòng có một nhà, không phải là nhà giầu mà ăn tiêu như một nhà thầu-khoán nhớn, không phải là nhà quan mà dậm-dịch như một dinh ông quan lớn thì xưa, không phải là nhà cho vay lãi mà cũng nhiều kẻ sang người trọng đến quỵ-lụy. Trong nhà, đồ dùng cách ăn, tựa theo như của người tây; chủ-nhân đi ra ngoài thời xe cao-xu độc-mã. Ai có hỏi nhau rằng ông chủ cái nhà ấy làm nghề nghiệp gì thời nguyên không có nghề-nghiệp gì; nguyên là chức vị gì thời cũng không biết có chức-vị gì cả; quanh năm vợ chồng chỉ ăn chơi, đàn hát, khách khứa; mùa hè thời nay Đồ-Sơn, mai Tam-Đảo. Lạ thay! người ta ở trong đời, thường có hai hạng: phi lao-lực thời lao-tâm; vậy mà sao có người như ông chủ-nhân cái nhà đó, con tạo-hóa chiều riêng một cách đến như thế ru? Khách cũng có nhiều người hiếu-sự đến khuyên bảo chủ-nhân những nhẽ phải: những người khuyên về đường lợi thời có người bảo nên tậu lấy một cái đồn-điền, vừa là làm giầu mà cũng là cảnh chơi thú; có người bảo nên mở một hiệu buôn to ở Hải-Phòng để cạnh-tranh thương-quyền với những các khách trú; có người bảo nên mở một sưởng làm đồ để cạnh-tranh với ngoại-hóa; có người bảo nên mở một cuộc cho vay lãi mà lấy nhẹ lãi, cũng là lợi mà cũng có đức-trạch. Có người khuyên về đường danh thời bảo nên mua lấy phẩm-hàm. Có người khuyên về công-ích thời bảo nên mở một trường học, đón thầy dạy cho những trẻ con ở phố học. Những người có lòng tốt mà đến khuyên bảo như thế, chủ-nhân đều lấy làm phải mà đều có nhời từ-tạ, lại đều có khoản-đãi mỗi người một món tiền ít nhiều gọi là. Bởi thế cho nên những người đến khuyên cũng mỗi ngày mỗi nhiều. Ấy là những người có bụng tốt mà túng-kiết. Lại những người giầu có sang-trọng thời có người đến rủ bỏ chung vốn để thầu-khoán; có người đến rủ bỏ chung vốn để mở hiệu; có người đến rủ bỏ chung vốn để chưng rượu; cũng có người lập hội công-ích mà đến rủ vào nhiều cổ-phần. Chủ-nhân cũng đều lấy làm phải mà đều có nhời từ-tạ cả. Lạ thay! người ta ở trong đời, cảm-tình của người đời đối với mình, thường có hai hạng: có người yêu, cũng có người ghét; vậy mà sao có người như ông chủ-nhân cái nhà đó, người đời thiện-cảm đến như thế ru? Danh-thiếp thỉnh-thiếp của những người khác gửi lại cho chủ-nhân, bỏ đầy chật một cái ngăn tủ mà tự chủ-nhân thời không từng có in một tập danh-thiếp nào; trong nhà chủ-nhân không mấy khi không có khách ăn tiệc uống rượu mà tự chủ-nhân không từng có đi ăn tiệc uống rượu của ai mời khi nào. Lạ thay! người ta ở trong đời phải có thù ứng, nhất vãng nhất lai; vậy mà sao có người như ông chủ-nhân cái nhà đó, vụng cách giao-tiếp đến như thế ru? Nhà người ta thường có khi vợ ghen chồng, chồng giận vợ, quát mắng đầy-tớ, chửi đánh om-sòm; trong nhà chủ-nhân đó thời xuân-phong hòa-khí xuốt quanh năm. Lạ thay! người ta ở trong đời, sự bất-như-ý mười phần thuờng có đến tám chín; vậy mà sao có người như ông chủ-nhân cái nhà đó, thật được vạn sự như ý đến như thế ru? Cùng là cái hoa mà cái hoa ở trong vườn nhà ấy như tươi hơn; cùng là cái đồng-hồ mà cái đồng-hồ ở trong nhà ấy như nhàn hơn. Tự người ngoài mà nghĩ về cái nhà đó, chỉ như con tạo-hóa đã bầy ra cái bể khổ thời trong cái bể khổ cũng phải có một cái cù-lao cực-lạc; nghĩ về hai vợ chồng ông chủ-nhân cái nhà đó, chỉ như có đút-lót riêng gì với tạo-hóa mà chiếm được nhiều những cái sướng về phần của kẻ khác trong thế-gian. Cuộc đời bể dâu, giầu sang mây chó... »
— Đây một đoạn văn này là thế nào?
— Đấy cũng vào cái truyện này đấy.
— Thế cái chủ-nhân ở cái nhà này là thế nào?
— Hai vợ chồng chủ-nhân cái nhà ấy tức là Bác Cả với Thị Hai ấy đấy.
— Tại thế nào mà rồi đến phú quí như thế?
— Ấy cũng còn phải gian-truân mất một phen. Khi đem nhau đến Lao-Cai, anh chàng nọ lo quá mà rồi thành ra ốm nặng; chị kia còn phải nuôi mãi; sau đến lúc khỏi ốm thời cái tiền bẩy chục bạc đã tiêu mất quá nửa. Rồi sau mãi tìm vào được một ông tây thầu-khoán, được y như cái nhời của Thị Hai bàn khi trước, từ đấy mới yên thân. Sau ông chủ ấy về Tây, có cho chị ta nhiều tiền của và một cái tòa nhà ở Hải-Phòng. Từ đấy anh chị lấy nhau, chỉ ăn chơi cho thích chí?
— Thế còn cái sự đánh mất tiền của ông chủ trước thời rồi thế nào?
— Anh ta hầu ông chủ sau này, cũng được chủ yêu; lại được có Thị Hai ở đấy, cho nên cũng kiếm được khá tiền. Một hôm, anh ta mới thưa rõ cái sự-tình ở với ông chủ trước mà đánh mất trộm là sự vô-ý, xin nhờ ông chủ sau nói lại cho và xin giả dần lại cái số tiền mất truớc, cứ vài tháng nộp lại một bận. Lại được ông chủ trước cũng có lượng, xét ra cái tình thực của hắn, cũng không nỡ bắt đền cả, bảo hắn giả được bao nhiêu thời giả, còn thời cũng thôi. Sau anh ta lại vẫn có đi lại.
— Thế ở Hải-Phòng rồi ra làm sao?
— Ở Hải-Phòng được gần hai năm, rồi lâm vào công nợ, phải bán cả nhà đất để trang giả, đồ-đạc cũng bán đi hết. Giả nợ xong, còn thừa được bốn năm trăm bạc, đem nhau đi chơi các cảnh-thắng, như chùa Hương, chùa Thầy, cùng những động ở trong Ninh-Bình. Sau còn có hơn một trăm bạc, mới đem nhau về Nam-Định mở hiệu giặt.
— Thế tức là anh thợ giặt ấy?
— Phải, chính hắn lại tự nói truyện. Nghe hắn vẫn tự đắc rằng ở đời được một người tri-kỷ là vợ, cho nên chị kia dẫu già, mù mà anh ta lại càng quí lắm.
— Như thế kể cũng tri-kỷ thật. Không cứ lúc ở Hà-Nội chốn đi, lúc nuôi nhau ở Lào-Cai; lại như lúc giầu có ở Hải-Phòng mà ăn chơi cho hết nghiệp, rồi cùng đi chơi tiêu-dao với nhau, chỗ đó mới thật là tri-kỷ: chưa thấy có người đàn-bà nào coi rẻ sự giầu có đến như thế. Nghe cái truyện anh thợ giặt này, lại nghĩ đến câu: « Tráng bất như nhân, không phụ thử giang hồ chi khí; thế tồn tri-kỷ, hoặc tại hồ chi phấn chi hương ».
— Ừ, hai câu ấy vào anh thợ giặt này được.
— Thế, truyện này Bác định đề là gì?
— Tôi định gọi là « Trần-ai tri-kỷ », lấy hai chữ « tri-kỷ » của anh thợ giặt nói ra.
— Độ bao giờ Bác soạn xong?
— Cứ kể thời chỉ có bốn hồi: hồi thứ nhất là ở Hà-Nội; hồi thứ hai là ở Lao-Cai; hồi thứ ba là ở Hải-Phòng; hồi thứ tư là ở Nam-Định; nhưng soạn cho ra truyện được, cũng thấy khó lắm.
— Dẫu viết thế nào thời cái truyện nó cũng chỉ có thế. Tôi cứ những đoạn văn của Bác đã chép đây, cùng là nhời Bác nói truyện, để rồi tôi thử vịnh chơi một bài thơ; Bác xem liệu có dùng được thời bao giờ Bác soạn xong truyện mà đưa in, in chơi vào sau truyện, làm thơ của thế-gian cho vui.
Thế-gian thơ rằng:
Luân-thường đổ-nát, phong-hóa suy;
Tiết-nghĩa rẻ-rúng, ân-tình ly.
Vợ chồng kết tóc chưa khăng-khít.
Nhân-tình nhân-ngãi còn kể chi.
Trần-ai tri-kỷ ai với ai,
Chăng là Bác Cả với Thị Hai.
Nào ai khuê-tó, ai tài-tuấn,
Lầu xanh gặp-gỡ người làng chơi.
Nửa gian nhà cỏ ngọn đèn xanh;
Mấy gịp cầu cao một gánh tình.
Bể khổ đà qua cơn sóng gió,
Giầu sang mây chó kiếp phù-sinh.
Cái nợ phong-lưu giả đã thừa,
Qua trải hồng-nhan mấy nắng mưa.
Hương phai phấn nhạt, duyên càng thắm,
Lòng chàng khi cuối, thiếp khi xưa.
Tri-kỷ xưa nay dễ mấy người,
Trần-ai nào đã ai với ai.
Nhắn khách dai-nhân với tài-tử,
Ngồi buồn xem truyện Thế-gian chơi.
## Nhàn tưởng
書叢局書沱傘
NHÀN TƯỞNG
Tản-Đà
NGUYỄN-KHẮC-HIẾU
Tous droits réservés.
NGUYỄN-ĐẠO-KÍNH
N° 21, Rue Tirant — Hanoi
xuất-bản
1928
In lần thứ nhất
Giá: 0 $ 20
NHÀN TƯỞNG
1. — Đời là một chỗ bắt người ta phải ở.
⁂
2. — Ở đời mà không có sự-nghiệp, như xuốt đời đi ở chọ mà không có nhà.
⁂
3. — Đời người ta lúc bé đi chữ nhất, nhớn lên thời đi chữ nhân. Đi chữ nhất là có hai sự: sống và ăn. Có sống thời phải có ăn, có ăn thời lại có sống. Đi chữ nhân là có ba sự: sống, ăn và làm. Có sống thời phải có ăn, có ăn thời phải có làm; có làm thời mới có ăn, có ăn thời mới có sống. Trong thế-gian hoặc cũng có người, từ bé đến già, xuốt đời đi chữ nhất.
⁂
4. — Thế-gian đáng quí nhất mà đáng thương nhất, là người đàn bà còn trẻ tuổi mà ở hóa xuốt đời.
⁂
5. — Tài-hoa, đạo-đức, anh-hùng, người đàn ông nên có đủ ba cái tính-chất ấy.
⁂
6. — Người đàn ông quí ở tài, mà cũng phải có đức; người đàn bà quí ở đức, mà không cần có tài.
⁂
7. — Người đàn ông ở đời, đáng sợ nhất duy có là vợ: duy người vợ có đủ thế-lực phá hoại cái sự-nghiệp cả một đời người đàn ông.
⁂
8. — Việc lớn trong đời không làm nổi, việc nhỏ không muốn làm; cho nên dễ lười.
⁂
9. — Ở đời lắm lúc cũng muốn làm việc dễ, nhưng khổ vì việc khó không ai làm cho.
⁂
10. — Thiên-hạ khổ-tâm nhất, là cái việc tất muốn làm mà liệu sức tất không thể làm nổi.
⁂
11. — Sự đời đáng buồn nhất, là con cháu không bằng ông cha.
⁂
12. — Trong thế-giới chỉ có giống dân hèn, không có nước nào nhỏ.
13. — Giống người hèn mà phải chịu khổ, thực là lý-luật thiên-nhiên. Sự khổ đó tức là bắt phạt về tội hèn.
⁂
14. — Cái nghĩa-lý rất hay của người hèn, cũng là không có giá-trị.
⁂
15. — Chim lồng, cá chậu, núi non-bộ, những sự chơi đó có thể làm hại cái tư-tưởng vĩ-đại của người ta.
⁂
16. — Người đàn ông cũng nên hơi có một chút cái tính-chất tàn-nhẫn.
⁂
17. — Chưa chắc những kẻ thù của mình mà không phải là ân-nhân.
⁂
18. — Vô-luận yêu ghét nhau thế nào, người ta đã quen biết với nhau lâu, thường tất có lúc nhớ.
19. — Trong khi nhớ một người, tức là có phụ với nhiều những người khác.
⁂
20. — Đương lúc người này nhớ người kia, mà người kia lại nhớ người khác, thời hai cái tư-tưởng đi không gặp nhau.
⁂
21. — Bạn-hữu mà không có chỗ thân hơn vợ chồng, thời chưa đủ kể là bạn.
⁂
22. — Ở đời đáng quí, là người bạn chưa biết mặt mà tình thân.
⁂
23. — Người ta sau lúc chết mà nếu còn có thiêng, thời thực có nhiều sư bất-tiện.
⁂
24. — Ở đời nhiều sự không nên biết đến rõ.
25. — Việc đời tám chín, không hứng-thú mà phải làm.
⁂
26. — Tội-ác ở xã-hội ngày nay, không gì nhớn hơn lợi-dụng sự ái-quốc.
⁂
27. — Thương đàn yêu nước, là câu dạy về hạng người thứ hai. Nếu ai ai đều tự muốn làm nên hào-kiệt vĩ-nhân, thời xã-hội nhân-quần, tự có nhiều hạnh-phúc.
⁂
28. — Những kẻ đại tiểu-nhân, cứ nguyên-chất đều có thể làm nên hào-kiệt.
⁂
29. — Ở đời một tài chưa đủ, phải có đức; cả đức cũng chưa đủ, phải có phúc. Cho nên người ta thường nói « phúc đức. »
30. — Người ta cứ làm nên công-nghiệp to, thời cái lỗi nhỏ không đủ kể.
⁂
31. — Các vật ở đời, đê-tiện nhất là cái công-danh nhỏ con.
⁂
32. — Muốn có danh-dự giá-trị với một cái xã-hội nhỏ con, thời cái danh-dự giá-trị ấy tất cũng nhỏ con.
⁂
33. — Người ta nhớn bé không hơn nhau là bao nhiêu, mà không biết những đại-đức đại-tài chứa ở bộ-phận nào trong thân-thể?
⁂
34. — Trong xã-hội vẫn mong có hào-kiệt, mà hoặc có hào-kiệt, khỏi đâu xã-hội không ghét-ghen.
35. — Nếu không phải là sự lợi hại thật thiết thân, ít ai chịu nghe nhời ai nói.
⁂
36. — Trong cái xã-hội nhỏ con, mà chỉ những hiềm oán nghi kỵ lẫn nhau, thời ai biết cùng ai đi lại.
⁂
37. — Mình có sự đáng giận, mà người ta không giận, thực là một sự đáng cám ơn.
⁂
38. — Những kẻ chí hư ác, thường có chỗ hơn người.
⁂
39. — Tiết kiệm khiêm cung, không phải là cái đức tốt của hạng người đại trượng-phu, chân nam-tử.
40. — Tiền của chưa hẳn đã là vật đáng tiết-kiệm; ân, uy, cần, mẫn thời nên phải tiết-kiệm. Duy có một sự hiếu không thể nói tiết-kiệm.
⁂
41. — Kẻ có tiền, không có tài; kẻ có tài, không có tiền. Cho nên việc đời khó làm.
⁂
42. — Đợi có nhiều tiền mới làm việc, thời việc ấy không bao giờ có làm.
⁂
43. — Ai có tài gì, giời cứ bắt phải làm việc ấy.
⁂
44. — Người không có thực-tài mà học thói ngang-tàng, thời cũng như con ngựa không chạy giỏi mà lại bất-kham.
45 —. Tài đức chưa hơn ai mà tự đã ra người đứng-đắn, vậy thời giống như cây tre cằn.
⁂
46. — Ở đời nếu muốn sống một cách như cái cây, thời có nhẽ cũng không khó.
⁂
47. — Người mà không có lo-nghĩ, như cái cây để trong dâm.
⁂
48. — Phàm những người đứng chủ một công-việc, không cứ cái việc ấy to nhỏ thế nào, đều là có cái tư-cách tự-lập.
⁂
49. — Các hạng người trong thế-gian, không cứ khôn hay dại, sang hay hèn, làm thầy tớ lẫn nhau cả.
50. — Các giống người trong thế-giới, kết-cục rồi lai cả.
⁂
51. — Những câu nói cứu thời, thường không hợp chân-lý.
⁂
52. — Luân-lý như một cái bức rào rất đơn-sơ, chỉ ngăn-chắn được những người không muốn vượt.
⁂
53. — Không có sự chơi hư, thời không biết được nhiều tình-trạng trong xã-hội.
⁂
54. — Các sự chơi hư-dại, nếu không tự mình thấy cái đáng chán ở trong ấy, thời ít ai dễ chừa.
⁂
55. — Dẫu anh-hùng hào-kiệt, những cái lỗi nhỏ giữ được thời vẫn hơn.
56.— Sự khôn của một người, thường khi khó chịu cho nhiều các người khác.
⁂
57. — Bè-bạn sơ nhau, phần nhiều do ở vợ.
⁂
58. — Thế-gian những sự rất bất-bình, thường do ở những người rất thân-ái.
⁂
59. — Hai vợ chồng lấy nhau, nếu giầu sang từ mới đến già, thời tình nghĩa không biết thế nào là thật.
⁂
60. — Cầu tình nghĩa ở trong xóm bình-khang, cũng như cầu công-lý ở thế-giới.
⁂
61. — Càng những vật có thế-lực ở đời bao nhiêu, thường càng hay đểu-giả bấy nhiêu. Xem như đồng tiền.
62. — Ở đời có việc thực vẫn biết là phải, mà vẫn không cam lòng.
⁂
63. — Sự thanh-nhã có nhiều khi không quí.
⁂
64. — Nếu giang-sơn mà biết nói thời danh-sơn thắng-cảnh, ít có người dám chơi.
⁂
65. — Người ta đương lúc nghĩ muốn làm việc gì, tức như đã bắt đầu làm việc ấy.
⁂
66. — Việc đời không nên tính kỹ quá.
67. — Người ta không nên ghét cái gì đến quá lắm; bao những cái mà mình ghét lắm, thường hay dính vào mình.
⁂
68. — Thiên-hạ thường xấu-hổ cái sự không đáng xấu-hổ, mà không xấu-hổ cái sự đáng xấu-hổ.
⁂
69. — Hạng người nào lại ghen-ghét với hạng người ấy.
⁂
70. — Người đàn bà còn trẻ tuổi, bụng thương con không bằng lúc tuổi già.
⁂
71. — Người đàn bà con gái, khóc thời không đẹp mà mếu thời đẹp.
⁂
72. — Con kỳ-lân chép ở trong sách nho về thì cổ, có nhẽ tức là con girafe ở phương tây lạc sang.
73. — Đi xe lửa hoặc xe hơi, mà ngồi ngảnh mặt về đằng sau, có hại cho cái tư-tưởng tiến-bộ.
⁂
74. — Không nhân chúng-tình, thời khó làm nên công-nghiệp to; sợ dư-luận, cũng không thể làm nên công-nghiệp to.
⁂
75. — Bàn với người chí-thân, thường không có câu truyện cao-thượng.
⁂
76. — Người đời thường thích tiếng quân-tử, mà cái việc làm thường tiểu-nhân.
⁂
77. — Người ta được nhiều người yêu mình, nghĩ cũng là một sự bất-hạnh: cái nợ tiền-bạc có thể giả cho hết, cái nợ ân-tình không bao giờ giả song.
78. — Ở đời ít ai tránh khỏi sự nói dối.
⁂
79. — Những nhà văn-sĩ, có thể gọi là lắm nhời.
⁂
80. — Dù có nhà triết-học không tin sự quỉ-thần, đêm tối đi qua chỗ thao-ma, chưa chắc khỏi chột dạ.
⁂
81. — Ở đời nếu không phải sợ ai thời là nhất; nếu còn phải có sợ thời sợ vợ là hơn.
⁂
82. — Chắc ở người khác là hơn mình, thực là một sự rất hại.
⁂
83. — Thiên-hạ chưa mấy ai đã dại, chỉ vị tính nhầm, cho nên không khôn.
84 — Sau một cuộc gian nguy đã trải qua, nghĩ lại thường rất có thú-vị.
⁂
85. — Người ta lúc ưu-cùng hoạn-nạn, mới biết sự thân sơ.
⁂
86. — Trong khi ưu-hoạn mà chí-nghiệp như thường, trừ-phi có can-đảm rất nhớn.
⁂
87. — Mười cái dại, chưa dễ làm nên một cái khôn.
⁂
88. — Đi vay tiền mà không được, thời phải mất lãi không.
⁂
89. — Nhân-tình thế-thái, càng gặp cái đáng chán, thời đối với người có cảm-tình, cũng cảm-tình càng thêm.
90 — Lấy cảm-tình mà nghĩ, thời cân cả thế-giới với một người, chưa hẳn đã bên nào nặng hơn.
⁂
91. — Con người ta ở đời, lúc nào cũng coi cái sự sống như là thừa, thời mới mong có công-nghiệp vĩ-đại.
⁂
92. — Bốn bể chín châu, chưa quả đã xa hơn gang-tấc.
⁂
93. — Chữ “giận” chỉ nên để đứng trên chữ “mình”: Chỉ có mình giận mình là phải. Còn như đối với người: người không có việc gì với mình thời còn có việc gì mà giận; người đáng giận thời không bõ giận.
⁂
94. — Cái thú đêm thanh, như cả thế-giới chết mà có một mình sống.
95. — Giời ít chiều ai đến quá lắm.
⁂
96. — Sự rất đắc-ý, thường được ở trong khi bất-ý.
⁂
97.— Trong thiên-hạ không có việc gì là không song.
⁂
98. — Ai cũng thường có cái cơ-hội hay, mà thường hay đánh mất.
⁂
99.— Trong thế-giới có một cái công-lý: thánh-hiền hào-kiệt, không cấm ai không được làm.
⁂
100. — Từ 25 tuổi giở về trước, làm phong-lưu công-tử; từ 26 cho đến 45 tuổi, làm cao-nhã văn-nhân; từ 46 cho đến 55, làm anh-hùng hào-kiệt; từ 56 giở về sau nữa, làm một nhà triết-học làm bạn với non xanh. Một đời người con giai như thế, có nhẽ cũng không uổng.
⁂
101. — Yêu-quí nhau về tinh-thần, quí hơn yêu-quí nhau về vật-chất. Cho nên đối với người thật yêu-quí, thời lo vì phúc-trạch, chưa bằng lo vì danh-tiết trong trăm năm.
GỬI NGƯỜI TRI-ÂM
Chu-kiều-Oanh có nói rằng: « Con người ta ở đời, thường hay lấy ít tri-âm làm giận, mà không biết thục tự mình đã phụ biết bao người tri-âm. » Tri-âm là ai? ai tri-âm với ai, thời ai tự biết với ai vậy. Nghĩ như: rau sắng chùa Hương, tấm lòng thơm-thảo; măng-đa Móng-cái, hậu-ý ân-cần. Quan hà-chan chứa ái, ân, nước mây như vẫn như gần như xa. Giời Kiến-an hai mươi mốt tháng ba, một cơn gió thổi; « mơ-màng, giấc mộng con, tân thế-giới, » cảm-tưởng bồi hồi. Tri-âm ai đó hỡi người! để ai sao khỏi như lời của ai!
Tôi tự khi An-nam tạp chí nghỉ việc, đi nam về bắc, lắng đắng không ra sao; lại càng trông thấy những chủng-tộc với giang-sơn, mà cảm hoài lai-láng: Dân hai nhăm triệu ai người lớn? nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con! Ngày tháng như chôi, mày râu đáng chán. Mỗi những lúc đêm quạnh đèn xanh chiều thu lá đỏ, nghĩ nhớ đến ai ai trong bốn bể nỗi u-sầu khôn dễ tả nên thơ. Nhất lại từ sau ngày hai-mươi-mốt tháng ba mới đây, giở xem lại bức thư in ở đầu tạp-chí số mười, lại trông thấy những nhời chúc-mong của ai tự năm xưa, mà cái lo đường xa gánh nặng, sông cái thuyền nan, càng thêm như gợi như khêu, không biết cùng ai tính-liệu vậy. Nay An-nam tạp chí chưa có sức tiến-hành, tôi cũng muốn nhân thể mà tĩnh-dưỡng một đôi năm, cho được hưởng cái hạnh-phúc nhàn-tịch. Trong thì-giờ nhàn-tịch, muốn thu-thập các văn khi xưa, in làm hai tập: Một tập là văn xuôi, là những bài văn xuôi để in tản-mác ở trong các quyển Khối-tình, Tản-đà tùng-văn, cùng trong các báo chí; một tập là văn tiểu-thuyết dài ngắn, cũng đã in ở các quyển Truyện Thế-gian, Tản-Đà tùng-văn khi xưa. Ngoài hai tập văn ấy, có in ra các quyển văn mới, hoặc làm hoặc dịch, phần nhiều cũng chỉ là những văn tiêu-nhàn khiển-muộn, như quyển Nhàn-tưởng đây, tạm gọi là có giao-du với xã-hội mà thôi; riêng ai thân-thế trăm năm, ai sẽ liệu tìm nơi ký-thác. Con tầm chưa thác, cuộc bể dâu còn sẽ lắm tơ duyên; cửa Vũ không xa, hội rồng cá thử rồi xem lớp sóng. Thôi vô-luận văn-chương với sự-nghiệp, chia làm hai hay hợp làm một, trong thiên-hạ đã có người tri âm. trong thiên-hạ tất cũng có người không phụ người tri-âm.
Cuối mùa xuân năm mậu-thìn (1928)
Tản-đà NGUYỄN-KHẮC-HIẾU
bái bút.
## Oán tình
của Lý Bạch, do Tản Đà dịch
Ngày Nay, số 119, 17-7-1938
Lý Bạch8345Oán tình - 怨情1938Tản Đà
## Tặng nội
của Lý Bạch, do Tản Đà dịch
Ngày Nay số 130, 1-10-1938.
Lý Bạch8346Tặng nội - 贈內1938Tản Đà
## Ngày xuân tương tư
Trách cái tằm xuân nhả mối tơ
Làm cho bối rối mối tương tư
Sương mù mặt đất người theo mộng
Nhạn lảng chân trời kẻ đợi thư
Nghìn dặm dám quên tình lúc ấy
Trăm năm còn nhớ chuyện ngày xưa
Tương tư một mối hai người biết
Ai đọc thơ này đã biết chưa?
## Qua cầu Hàm Rồng cảm tác
Hôm xưa chơi ở Dương Quỳ,
Trắng phau ngựa trắng, xanh rì rừng xanh.
Hàm Rồng nay lại qua Thanh,
Dưới cầu nước biếc in hình thi nhân,
Người đâu sương tuyết phong trần
Non xanh nước biếc bao lần vãng lai.
Dư đồ còn đó chưa phai,
Còn non, còn nước, còn người nước non.
Ruột tằm dù héo chưa mòn
Tơ lòng một mối xin còn vấn vương
Nước non muôn dặm đường trường
Hỡi ai "rau sắng chùa Hương" biết cùng?
Trăm năm nặng gánh tang bồng,
Lửa than càng đốt cho lòng càng son.
Cảnh còn biếc nước xanh non,
Đầu ai trắng tóc duyên còn thắm tơ.
Để ai thương nhớ đợi chờ,
Mà ai đi mãi bao giờ đến nơi?
## Dịch thủy tống biệt
Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn..
(Gió hiu hắt thổi, sông Dịch lạnh,
Kẻ tráng sĩ ra đi không trở về).
Bản gốc:
Bản dịch:
## Xuân tứ
Xuân xưa Hàng Lọng cờ bay
Thoi đưa ngày tháng đã đầy mười năm
Biết bao ra Bắc vào Nam
Bức dư đồ rách đã cam khó lòng
Văn chương chút nghĩa đèo bòng
Thuyền không tay lái vẫy vùng được sao?
Ngày xuân thêm tuổi càng cao
Non xanh nước biếc càng ngao ngán lòng.
## Tâm sự nàng Mị-ê
Châu giang một dải sông dài
Thuyền ai than thở một người vương phi
Đồ Bàn thành phá hủy
Ngọa Phật tháp thiên di
5Thành tan tháp đổ
Chàng tử biệt
Thiếp sinh ly
Sinh ký đau lòng kẻ tử quy!
Sóng bạc ngàn trùng
10Âm dương cách trở
Chiên hồng một tấm
Phu thê xướng tùy
Ơi mây, ơi nước, ơi trời!
Đũa vàng mâm ngọc giọt lụy rơi
15Nước sông trong đục
Lệ thiếp đầy vơi
Bể bể dâu dâu khóc nỗi đời!
Trời ơi! Nước hỡi! Mây hời!
Nước chảy mây bay, trời ở lại
20Để thiếp theo chồng mấy dặm khơi.